Cụ thể , Hiệp hội đã báo cáo và kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 01/CV- HHVT ngày 08/01/2025 về việc “xử lý một số bất cập, gây khó khăn, ách tắc, phát sinh chi phí cho doanh nghiệp vận tải khi áp dụng văn bản quy phạm pháp luật đối với việc đổi chứng nhận đăng ký xe và thủ tục cấp giấy phép lưu hành xe” và Công văn số 07/CV- HHVT ngày 16/01/2025 về việc “đề nghị khẩn trương tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp kinh doanh vận tải bằng ô tô”.
Nội dung báo cáo và kiến nghị là việc triển khai thực hiện Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ (Luật TTATGTĐB) và Thông tư số 79/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an “Quy định về cấp, thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe cơ giới, xe máy chuyên dùng” (Thông tư số 79/TT-BCA) còn một số bất cập, không phù hợp thực tiễn, gây khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp kinh doanh vận tải bằng ô tô. Hiệp hội kính đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Công an, Bộ Giao thông vận tải (GTVT) và Bộ Tư pháp hướng dẫn, tháo gỡ những bất cập, vướng mắc như sau:

Theo quy định mới, người lái xe bị giảm 20% - 30% thu nhập do giảm giờ làm việc.
Về thời gian lái xe của người lái xe ô tô theo quy định Luật TTATGTĐB
Khoản 1 Điều 64 quy định: “Thời gian lái xe của người lái xe ô tô không quá 10 giờ trong một ngày và không quá 48 giờ trong một tuần; lái xe liên tục không quá 04 giờ và bảo đảm các quy định có liên quan của Bộ luật Lao động”.
So sánh các quy định của quốc tế với Việt Nam và đánh giá về thời gian lái xe của người lái xe ô tô:
Thực tế tình trạng hệ thống giao thông đường bộ Việt Nam hiện nay, bao gồm hạ tầng đường bộ, hệ thống báo hiệu đường bộ, quy định về tổ chức giao thông và mật độ phương tiện tham giao thông, tổng số giờ lái xe của người lái xe ô tô khoảng 60 - 65 giờ/tuần đối với vận tải đường ngắn (dưới 300km) và trên 65 giờ/tuần đối với vận tải đường dài (trên 300km).
So sánh với thời gian lái xe tối đa của người lái xe ô tô quy định tại Khoản 1 Điều 64 Luật TTATGTĐB là 48 giờ/tuần thì số giờ làm việc của lái xe bị giảm khoảng 20% - 30% đối với vận tải đường ngắn và trên 30% đối với vận tải đường dài.
Quy định này đã gây ra những khó khăn, thiệt hại như sau:
Người lái xe bị giảm 20% - 30% thu nhập do giảm giờ làm việc; Giảm năng lực cung ứng dịch vụ của toàn thị trường vận tải đường bộ khoảng 20% - 30%, làm cho giá cước vận tải tăng ước tính khoảng 20% - 25%, dẫn đến làm tăng chi phí logistics vận tải lên khoảng 10% - 11% và làm giảm sức cạnh tranh của cả nền kinh tế Việt Nam.
Tìm hiểu quy định quốc tế về số giờ lái xe tối đa của người lái xe ô tô như sau:
Liên minh Châu Âu EU quy định số 561/2006 (EU regulation (EC) No 561/2006) có hiệu lực từ ngày 11/4/2007) số giờ lái xe tối đa của người lái xe ô tô là 56 giờ/tuần ;
Cục Quản lý an toàn xe cơ giới liên bang Mỹ quy định số giờ lái xe tối đa của người lái xe ô tô từ 60 giờ - 70 giờ trên một tuần ;
Điều 32 Luật Lao động Nhật Bản quy định số giờ làm việc của người lao động là 40 giờ/tuần . Từ tháng 4/2024, số giờ làm thêm của lái xe (số giờ lái xe tối đa của người lái xe ô tô) được quy định là 960 giờ/năm hoặc 20 giờ/tuần. Như vậy, người lái xe tại Nhật Bản được phép làm việc (lái xe) tối đa là 60 giờ/tuần.
So sánh quy định về thời gian lái xe của người lái xe ô tô của các nền kinh tế có trình độ phát triển cao nhất trên thế giới nêu trên, thì quy định thời gian lái xe của người lái xe ô tô không quá 48 giờ trong một tuần của Việt Nam là thấp nhất.
Đặc điểm của Việt Nam: Hoạt động vận tải khách chỉ tăng vào các dịp nghỉ lễ, tết, nghỉ cuối tuần; Hoạt động vận tải hàng hóa chỉ tăng vào cuối năm hoặc từng thời điểm theo mùa vụ thu hoạch nông, lâm, hải sản, theo nguồn hàng hóa xuất, nhập khẩu. Do đó thời gian lái xe của người lái xe ô tô kinh doanh vượt thời gian theo quy định không phải là liên tục trong cả tháng và cả năm, có nhiều thời điểm xe dừng hoạt động cả tháng, người lái xe được nghỉ ngơi. Điều này không làm ảnh hưởng đến quy định về thời gian lái xe (lao động) theo quy định của Bộ luật Lao động Việt Nam.
.jpg)
Mức xử phạt hành vi vi phạm liên quan đến TBGSHT tăng gây nên những thay đổi lớn.
Quy định về thiết bị giám sát hành trình (TBGSHT)
Thiết bị giám sát hành trình quy định tại Luật GTĐB năm 2008
Luật GTĐB năm 2008 quy định TBGSHT tại điểm b khoản 1 Điều 67 “Điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô” với mục đích chính là cung cấp dữ liệu phục vụ công tác quản lý, giám sát của doanh nghiệp vận tải và quản lý nhà nước của cấp Sở Giao thông vận tải trong hoạt động vận tải.
Chế tài xử phạt các hành vi vi phạm liên quan đến TBGSHT quy định trong các nghị định xử phạt vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ chỉ áp dụng cho nhóm sản xuất, lắp đặt, quản lý, sử dụng TBGSHT trên các loại xe ô tô kinh doanh đối với cá nhân, tổ chức kinh doanh vận tải và sản xuất TBGSHT. Không xử phạt đối với người lái xe và không sử dụng kết quả khai thác từ dữ liệu TBGSHT để xử phạt vi phạm hành chính.
Thiết bị giám sát hành trình quy định tại Luật TTATGTĐB
Luật TTATGTĐB quy định TBGSHT tại Điều 71, khoản 2 với mục đích:
Hệ thống quản lý dữ liệu thiết bị giám sát hành trình … dùng để ghi, lưu trữ, truyền phát thông tin, dữ liệu về hành trình của phương tiện tham gia giao thông đường bộ …., phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn giao thông đường bộ và xử lý hành vi vi phạm pháp luật, quản lý nhà nước về vận tải đường bộ; ….”.
Chế tài xử phạt các hành vi vi phạm liên quan đến TBGSHT quy định tại Nghi định 168/2024/NĐ-CP, được chia làm 02 nhóm hành vi vi phạm:
Nhóm (1): Các hành vi vi phạm liên quan đến việc sản xuất, lắp đặt, quản lý, sử dụng TBGSHT trên các loại xe ô tô kinh doanh vận tải đối với người điều khiển xe, cá nhân, tổ chức kinh doanh vận tải và cá nhân, tổ chức kinh doanh sản xuất, lắp đặt TBGSHT;
Nhóm (2): Các hành vi vi phạm từ khai thác dữ liệu do TBGSHT cung cấp đối với người điều khiển xe ô tô và chủ phương tiện vi phạm.
Các loại hành vi của 02 nhóm hành vi ((1) + (2)) này được quy định tại 12 khoản của 10 điều của Nghị định 168/2024/NĐ-CP.
Như vậy việc bổ sung quy định về chế tài và nâng mức xử phạt hành vi vi phạm liên quan đến TBGSHT theo Luật TTATGTĐB đối với lái xe và chủ xe có thay đổi rất lớn và phạm vi rộng cả về đối tượng và hành vi vi phạm. Việc này cần phải có thời gian tuyên truyền phổ biến đến các đối tượng chịu tác động. Mặt khác dữ liệu thu được do TBGSHT cung cấp cần phải tính đến độ chính xác và có trừ sai số do thiết bị, điều kiện chuyền dữ liệu, mạng viễn thông, thời tiết, địa hình, vật che khuất, tình trạng và tổ chức giao thông. Cách tính thời gian lái xe trên cơ sở thời gian hoạt động (nổ máy) cần phải tính đến các khoảng thời gian chuẩn bị như khởi động máy, bơm dầu, lấy hàng, chờ thủ tục, lệnh xuất phát, tắc đường nhiều giờ, nhiều đường cao tốc chưa có trạm dừng nghỉ để cho xe và lái xe nghỉ, sinh hoạt cá nhân …

Đổi “Chứng nhận đăng ký xe” và biển số xe kinh doanh
Khoản 3 Điều 18 Thông tư số 79/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ Công an “Quy định về cấp, thu hồi chứng nhận đăng ký xe, biển số xe cơ giới, xe máy chuyên dùng” (Thông tư 79/2024/TT-BCA), quy định “Xe đã đăng ký, cấp biển số xe nền màu trắng, chữ và số màu đen đổi sang biển số xe nền màu vàng, chữ và số màu đen (xe hoạt động kinh doanh vận tải bằng ô tô) và ngược lại”.
Quy định này yêu cầu toàn bộ các xe đã được cấp mới hoặc cấp đổi “Chứng nhận giấy đăng xe” theo quy định tại Thông tư 58/2020/TT-BCA sẽ buộc phải đổi lại “Chứng nhận giấy đăng xe” theo quy định tại Thông tư 79/2024/TT-BCA mới được kiểm định khi đến hạn. Với khoảng hơn một triệu “Chứng nhận đăng ký xe” đã được cấp mới và cấp đổi theo quy định tại Thông tư 58/2020/TT-BCA, mức độ ảnh hưởng mang tính tiêu cực này là rất lớn và đang gây ra lãng phí chi phí và rất nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh vận tải bằng xe ô tô. Đặc biệt, một số xe đã thực hiện việc cấp mới hoặc cấp đổi “Chứng nhận đăng ký xe” đã theo Thông tư 58/2020/TTBCA, nay phải làm thủ tục đổi lại “Chứng nhận đăng ký xe” theo Thông tư 79/2024/TT-BCA vẫn phải đổi sang biển số mới. Điều này dẫn đến việc xe phải nằm chờ xin cấp lại phù hiệu, gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Mặt khác, thực tế hiện nay đa số xe kinh doanh của doanh nghiệp và cá nhân bao gồm xe khách, xe tải, xe tác xi …. đều vay thế chấp ngân hàng bằng “Chứng nhận đăng ký xe”. Việc rút, mượn “Chứng nhận đăng ký xe” từ ngân hàng ra để đem đến cơ quan CSGT “đổi chứng nhận đăng ký xe” là không thể thực hiện được. Nếu không “đổi chứng nhận đăng ký xe” phù hợp với “biển số xe nền màu vàng, chữ và số màu đen” thì các Trung tâm đăng kiểm từ chối không kiểm định, như vậy xe không thể hoạt động được. Điều này đã gây vô cùng khó khăn cho doanh nghiệp vận tải, xe phải dừng hoạt động.
| Trước những khó khăn, vướng mắc, bất cập gây lãng phí, thiệt hại cho người dân, doanh nghiệp đã đầu tư vào hàng triệu phương tiện vận tải đường bộ và giảm nguồn thu thuế vào ngân sách Nhà nước, Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam kiến nghị Thủ tướng Chính phủ 08 nội dung sau: Điều chỉnh thời gian lái xe của người lái xe ô tô kinh doanh vận tải lên 70 giờ/tuần, bằng với mức cao nhất theo các quy định của Mỹ, EU và Nhật Bản nêu trên. Chỉ xử phạt theo quy định tại Nghị định 168/2024/NĐ-CP đối với các hành vi vi phạm về vượt quá thời gian lái xe liên tục, thời gian lái xe trong ngày và thời gian lái xe trong tuần của người lái xe ô tô kinh doanh vận tải trên 10% thời gian quy định tại Điều 64 Luật TTATGTĐB; Không xử phạt đối với cá nhân, doanh nghiệp vận tải là chủ phương tiện, trường hợp chủ phương tiện vận tải yêu cầu thời gian lái xe của người lái xe vượt quá thời gian làm việc theo quy định thì giữa chủ phương tiện vận tải và lái xe sẽ giải quyết bằng quy định nội bộ của doanh nghiệp. Tính thời gian lái xe cộng dồn một lần, trong ngày và trong tuần ở tốc độ tối thiểu 15km/giờ để loại bỏ đi những tình huống tắc đường kéo dài thường xuyên xảy ra ở các đô thị và trên hệ thống đường bộ Việt Nam. Đây là những tình huống bất khả kháng cần miễn trừ trách nhiệm; Tạm thời chưa áp dụng quy định về thời gian lái xe của người lái xe ô tô kinh doanh vận tải khi lưu thông trên các đường cao tốc chưa có trạm dừng nghỉ; Chưa xử phạt các hành vi vi phạm từ khai thác dữ liệu do TBGSHT cung cấp đối với người điều khiển xe ô tô và chủ phương tiện vi phạm (Nhóm (2)) về vượt quá thời gian lái xe quy định tại Điều 64 Luật TTATGTĐB trong thời gian xem xét, điều chỉnh thời gian lái xe của người lái xe ô tô kinh doanh vận tải phù hợp với hoàn cảnh thực tế và chuẩn hóa thiết bị giám sát hành trình là phương tiện đo lường về thời gian lái xe theo quy định pháp luật đo lường. Chỉ xử phạt các hành vi vi phạm liên quan đến việc lắp đặt, quản lý, sử dụng, khai thác TBGSHT trên các loại xe ô tô kinh doanh vận tải đối với cá nhân, tổ chức kinh doanh vận tải hoặc cá nhân, tổ chức kinh doanh sản xuất, lắp đặt TBGSHT (Không xử phạt đối với người điều khiển xe). Ngày 05/02/2025, Cục Đăng kiểm Việt Nam (ĐKVN) đã có Công văn số 403 /ĐKVN-VPTI về việc “tháo gỡ khó khăn, vướng mắc theo kiến nghị của Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam” kiến nghị Bộ Giao thông vận tải cho phép các xe chưa đổi “Chứng nhận đăng ký xe” theo quy định tại Thông tư 79/2024/TT-BCA được kiểm định và cấp bản sao “Giấy chứng nhận kiểm định” có giá trị trong 03 tháng. Tuy nhiên theo thống kê, đánh giá ở Mục 3 của Công văn này, thì thời gian để hoàn thiện, đủ các thủ tục để đổi “Chứng nhận đăng ký xe” và biển số xe sang màu vàng (nếu chưa đổi), đổi cấp lại phù hiệu cho khoảng hơn một triệu xe sẽ phải cần thời gian khoảng 02 năm. Do đó đề nghị cho phép các xe chưa đổi “Chứng nhận đăng ký xe” theo quy định tại Thông tư 79/2024/TT-BCA tiếp tục được kiểm định trong năm 2025 và 2026 để người dân, doanh nghiệp và cơ quan Cảnh sát giao thông có đủ thời gian làm lại công việc đã thực hiện trong 4 năm trước đó, khi thực hiện Thông tư 58/2020/TT-BCA. Trước mắt cần tiếp tục thực hiện việc kiểm định cho các phương tiện đã hết hạn kiểm định nhưng chưa đổi “Chứng nhận đăng ký xe” theo quy định của Thông tư số 79/TT-BCA. Đề nghị cho phép người dân và doanh nghiệp được thực hiện quy trình rút gọn đối với những xe đã được cấp mới, cấp đổi “Chứng nhận đăng ký xe” theo Thông tư 58/2020/TT-BCA, nay được phép cấp đổi “Chứng nhận đăng ký xe” theo Thông tư 79/2024/TT-BCA mà không cần thực hiện thủ tục khám xe, cà lại số khung số máy để tránh lãng phí vô ích cho người dân và doanh nghiệp. Việc xe phải dừng hoạt động để đưa đến cơ quan công an thực hiện thủ tục khám xe, cà lại số khung, số máy (lần thứ hai hoặc lần thứ ba) là rất phiền hà, tốn kém cho người dân và doanh nghiệp, đặc biệt nhiều địa phương như Hà Nội, Tp HCM, Hải Phòng .... có trụ sở đội CSGT đăng ký xe trong nội thành nên không thể đưa xe tải, sơ mi rơ mooc/rơ mooc, xe khách loại trên 30 ghế vào đó để thủ tục khám xe, cà lại số khung số máy. Về việc đổi “Chứng nhận đăng ký xe” đang thế chấp tại ngân hàng, đề nghị Thủ tướng Chính phủ có ý kiến với Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng trong cả nước tạo điều kiện, có giải pháp phối hợp, hỗ trợ chủ xe đang có “Chứng nhận đăng ký xe” thế chấp tại ngân hàng đó, được rút ra để đưa đến Phòng Cảnh sát giao thông, Công an các địa phương để đổi “Chứng nhận đăng ký xe” theo biển số có nền màu, bao gồm cả các xe đã đổi và chưa đổi biển số xe nền màu trắng, chữ và số màu đen sang biển số xe nền màu vàng, chữ và số màu đen. Sau khi đổi xong thì nộp thế chấp lại “Chứng nhận đăng ký xe” mới về ngân hàng đó. |










